Skip to main content

THỦ TỤC XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

A. Quy trình
Bước 1: Người gửi hàng nêu rõ đặc điểm tính chất của hàng hóa (khối lượng bao nhiêu, được làm bằng chất liệu gì) cho đơn vị vận chuyển. Đặc biệt nếu là hàng cốt gỗ hoặc làm bằng gỗ tự nhiên, phải có chứng nhận nguồn gốc gỗ và hóa đơn thu mua nguyên vật liệu từ nhà cung cấp, để chứng minh nguồn gốc không phải gỗ quý, gỗ cấm khai thác hay bị khai thác trái phép.
Bước 2: Người gửi hàng cung cấp đầy đủ danh mục hàng hóa cần gửi (hàng gì, số lượng bao nhiêu chiếc/cái, trị giá mỗi mặt hàng là bao nhiêu) để đơn vị vận chuyển tiến hành làm thủ tục hải quan thông quan xuất khẩu và khai báo trên hệ thống hải quan điện tử một cách chính xác.
Bước 3: Người gửi hàng cần cung cấp các chứng nhận làng nghề để chứng minh nguồn gốc nguyên vật liệu của sản phẩm được sản xuất từ các cơ sở sản xuất (thường là ở các làng nghề truyền thống của Việt Nam) để nhà vận chuyển tiến hành làm thủ tục cấp chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa (C/O) . Chứng nhận C/O cũng để cho người nhận hàng tại nước ngoài có thể có ưu đãi về thuế nhập khẩu và được chứng nhận sản phẩm hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam.
Bước 4: Tùy theo tính chất hàng hóa mà đơn vị vận chuyển quốc tế sẽ yêu cầu người gửi cung cấp thêm các chứng từ có liên quan để có thể: làm kiểm dịch thực vật cho các hàng mỹ nghệ bằng gỗ, làm chứng thư hun trùng cho hàng hóa dễ vỡ (hàng gốm sứ) đóng trong thùng gỗ kín hoặc nan thưa, làm giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho hàng thực phẩm …
Bước 5: Ngoài ra người gửi hay người xuất khẩu cần phải là một pháp nhân hay một doanh nghiệp để đứng tên xuất khẩu trên tờ khai hải quan. Trong trường hợp nếu người gửi là cá nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể, hoặc là doanh nghiệp thương mại, không đứng tên trên tờ khai thì nhà vận tải quốc tế có thể đứng ra làm thủ tục xuất khẩu ủy thác cho người gửi.
Lưu ý: Đối với những hàng thủ công mỹ nghệ dễ vỡ hoặc rách hỏng như gốm sứ hoặc tranh sơn mài, sơn dầu, nhà vận chuyển sẽ yêu cầu người gửi bọc gói và đóng thùng cẩn thận để đảm bảo khi vận chuyển quốc tế trên biển tránh các rủi ro. Đơn vị vận chuyển đường biển cũng thường sẽ cung cấp các dịch vụ kho bãi như đóng thùng gỗ kín, chèn lót cho những mặt hàng này.
Bước 6: Nhà xuất khẩu hoặc đơn vị vận chuyển đại diện sẽ gửi bộ hồ sơ gốc bao gồm : Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice) , Phiếu đóng gói hàng hóa (Packing List), Chứng thư hun trùng, kiểm dịch (Phyto/Fumi) (nếu có), Vận tải đơn (Bill of lading) bản gốc đầy đủ thông qua đường chuyển phát nhanh quốc tế đến tay người nhận để người nhập khẩu có thể lấy chứng từ làm thủ tục nhập khẩu ở cảng đích.
Hàng thủ công mỹ nghệ là một trong những loại hàng hóa có thế mạnh xuất khẩu ở Việt Nam, tuy nhiên không phải cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp thương mại nào biết rõ ràng về thủ tục xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ này. Những hàng hóa thủ công như gốm sứ, sơn mài, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ rất được ưu chuộng tại thị trường Châu Âu, Châu Mỹ nhưng khi xuất khẩu hàng này vào nước ngoài, người xuất khẩu và người nhập khẩu cần hiểu rõ một số thủ tục như vậy.
B. Tình huống cụ thể:
1. Tình huống 1: Hợp đồng xuất khẩu lô hàng rổ đan bằng sợi mây - mã HS 4602 cho công ty đối tác bên Hàn Quốc nhưng không trực tiếp sản xuất mà đặt mua của một công ty khác ở trong nước.(Công ty này mua bán thành phẩm từ các hộ gia đình về đóng gói lại). Có thể xin C/O form AK với tiêu chí WO không? Các thủ tục, giấy tờ cần thiết để xin được C/O?
- Căn cứ Điều 9, Phụ lục VII, Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/06/2014 của Bộ Công Thương quy định thực hiện quy tắc xuất xứ trong Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc. Theo đó, hướng dẫn cách ghi tiêu chí xuất xứ trên C/O mẫu AK. Hàng hóa có xuất xứ thuần tuý hoặc được sản xuất toàn bộ tại nước nhập khẩu, ghi tiêu chí xuất xứ tại ô số 8 là “WO”.
- Căn cứ Điều 3, Phụ lục I, Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/06/2014 của Bộ Công Thương quy định:
“ Điều 3. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy
Hàng hoá quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 được coi là có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một nước thành viên trong các trường hợp sau:
1. Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được thu hoạch, hái hoặc thu lượm sau khi được trồng tại đó;
2. Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại đó;
3. Các sản phẩm chế biến từ động vật sống được đề cập tại khoản 2 của Điều này;
4. Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, thu lượm hoặc săn bắt tại đó;
5. Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác chưa được liệt kê từ khoản 1 đến khoản 4, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của nước đó;
6. Sản phẩm đánh bắt bằng tàu được đăng ký tại một nước thành viên và có treo cờ của nước đó, và các sản phẩm khác do nước thành viên hoặc người của nước thành viên đó khai thác từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của nước đó, với điều kiện là nước thành viên đó có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển đó theo luật quốc tế;
7. Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký tại một nước thành viên và treo cờ của nước đó;
8. Sản phẩm được chế biến và/hoặc được sản xuất ngay trên tàu chế biến được đăng ký tại một nước thành viên và treo cờ của nước đó, từ các sản phẩm được đề cập tại khoản 7;
9. Các sản phẩm được khai thác từ không gian vũ trụ với điều kiện phải do một nước thành viên hoặc một người của nước thành viên đó thực hiện;
10. Các vật phẩm thu nhặt được tại nước thành viên nhưng không thực hiện được những chức năng ban đầu hoặc không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế;
11. Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ:
          a) quá trình sản xuất tại nước thành viên xuất khẩu; hoặc
b) sản phẩm đã qua sử dụng được thu nhặt tại nước thành viên xuất khẩu, với điều kiện hàng hóa đó chỉ phù hợp với làm nguyên vật liệu thô; và
12. Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại lãnh thổ của nước thành viên xuất khẩu từ các sản phẩm được đề cập từ khoản 1 đến khoản 11 của Điều này.”
Theo nội dung trình bày, Công ty đặt mua mặt hàng rổ đan bằng sợi mây từ công ty khác ở trong nước để xuất khẩu nếu sản phẩm xuất khẩu được cấu thành từ toàn bộ nguyên liệu trong nước và được sản xuất tại Việt Nam thì hàng hoá  đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuần tuý theo quy định tại Điều 3, Phụ lục I, Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/06/2014 của Bộ Công Thương dẫn trên. Do đó, Công ty có thể xin C/O form AK với tiêu chí WO.
Về các thủ tục, giấy tờ cần thiết để xin được C/O, liên hệ với các tổ chức cấp C/O quy định tại phụ lục VIII, Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/06/2014 để được hướng dẫn cụ thể.
2. Tình huống 2: Công ty sắp xuất 1 lô hàng tre, vầu, lành hành (cây họ tre trúc) đi Đài Loan. Mặt hàng được dùng trong nông nghiệp để đóng lồng nuôi cá và đóng cọc nhà giàn nuôi trồng thủy sản. Thuế suất cho mặt hàng tre, vầu, lành hành( cây họ họ tre trúc) xuất đi Đài Loan được áp dụng là bao nhiêu % và mã HS cho tên sản phẩm là gì
Trả lời:
Mã số HS:
Việc xác định HS của mặt hàng dựa vào tính chất và thành phần cấu tạo của hàng hóa, thực tế hàng hóa nhập khẩu; áp dụng 06 (sáu) quy tắc phân loại tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính về việc ban hành Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và các văn bản hướng dẫn phân loại hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 12/04/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế suất đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính thì mặt hàng bạn đọc dự kiến xuất khẩu là tre, vầu, lành lành (cây họ tre trúc) có thể thuộc nhóm 1401 “Nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng để tết bện (như: tre, song, mây, sậy, liễu gai, cây bấc, cọ sợi, đã rửa sạch, chuội hoặc các loại rơm, rạ ngũ cốc đã tẩy hoặc nhuộm và vỏ cây đoạn)”.  Cụ thể mã HS 1401.10.00 là mặt hàng tre.
- Thuế xuất khẩu:
+ Căn cứ Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 193/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 thì các mặt hàng thuộc nhóm 1401 không nằm trong danh sách các mặt hàng chịu thuế.
+ Căn cứ vào khoản 2 Điều 2 Thông tư 193/2012/TT-BTC thì: “Trường hợp một mặt hàng không được quy định cụ thể tên trong Biểu thuế xuất khẩu thì khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan vẫn phải khai mã số của mặt hàng đó theo 08 chữ số tương ứng với mã số của mặt hàng đó trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại mục I Phục lục II ban hành kèm theo Thông tư này và ghi mức thuế suất thuế xuất khẩu là 0% (không phần trăm)”.
Về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu: tham khảo các quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều 8 Thông tư số 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 quy định về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
C. Thực trạng: Xuất khẩu mây tre đan: Chật vật nguồn nguyên liệu
 Mặc dù so với nhiều mặt hàng tỷ USD khác, kim ngạch XK mây tre đan còn khá 'khiêm tốn', song nếu thực sự có chiến lược phát triển bài bản, đầu tư đúng mức, XK mây tre đan có nhiều khả năng bứt phá ngoạn mục trong tương lai.
 Chiếm trên 3% thị phần thế giới 
Việt Nam có khoảng trên 1.000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số các làng nghề trong cả nước. Đến nay, các sản phẩm mây tre đan đã XK tới hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch XK trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch XK hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước. Thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho thấy: Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/11, tổng giá trị XK nhóm hàng mây, tre, cói đạt trên 230,16 triệu USD. Từ đầu năm đến nay, XK mây, tre, cói sang các thị trường XK chính của nhóm hàng này là Hoa Kỳ, Nhật Bản,... ghi nhận sự tăng trưởng khả quan.
 Mặc dù đã có sự gia tăng song điểm đáng lưu ý trong XK mây tre đan là Việt Nam hiện đang chiếm thị phần rất nhỏ trên thị trường thế giới. Cụ thể, theo thống kê của Trademap (hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của các nước): Thị phần mây tre đan Việt Nam trên thị trường thế giới mới đạt khoảng 3,37%. Trong đó, thị trường chủ đạo NK mây tre lá của Việt Nam là Hoa Kỳ, chiếm đến 20% và Nhật Bản chiếm 16% tổng giá trị XK.
Một số chuyên gia đánh giá, cơ hội phát triển cho ngành hàng mây tre đan của Việt Nam còn khá rộng mở. Khả năng nâng con số 3,37% thị phần thế giới lên khoảng 8-10% trong tương lai hoàn toàn khả thi. Cùng với đó, kim ngạch XK của ngành này có thể đạt tới 1 tỷ USD chứ không chỉ mãi “đì đẹt” vài trăm triệu USD mỗi năm như hiện tại. Liên quan tới vấn đề này, ông Hoàng Xuân Thủy, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Phát triển công nghiệp Hà Nội phân tích rõ hơn: Một số thị trường mới nổi những năm gần đây như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Nga, Australia… đang có xu hướng NK nhiều các mặt hàng mây tre đan từ Việt Nam. Cụ thể, những năm gần đây, Trung Quốc và Tây Ban Nha đã gia tăng NK các mặt hàng mây tre đan Việt Nam với mức tăng lần lượt là 40%/năm và 13,2%/năm.
Cần chiến lược phát triển rõ ràng
Mặc dù dư địa thị trường còn rộng mở, song tại sao ngành mây tre đan lại vẫn chưa thể phát triển bứt phá? Theo ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, mấu chốt là bởi Việt Nam đang thiếu chiến lược phát triển bền vững cho các ngành nghề thủ công mỹ nghệ nói chung, nhất là mặt hàng mây, tre. Trên thực tế, nhiều chính sách phát triển các mặt hàng mây, tre, nứa, lá đề ra lại có phần thiếu thực tế, không sát với sản xuất. Bên cạnh đó, do phát triển tự phát, phân tán, mẫu mã đơn điệu, công nghệ lạc hậu, nhiều làng nghề truyền thống của Việt Nam không thể cạnh tranh với thị trường quốc tế. Ngoài ra, tình trạng thiếu vốn, thị trường bấp bênh, nguồn nguyện liệu không ổn định… đẩy không ít làng nghề rơi vào cảnh sản xuất cầm chừng.
Xung quanh vấn đề này, ông Hoàng Xuân Thủy cho biết: Về mặt trực tiếp, hiện nay, thiếu nguồn cung chính là một trong những yếu tố quan trọng cản trở sự phát triển của ngành mây tre đan. Nguồn cung nguyên liệu chính cho các làng nghề mây tre đan của Hà Nội là từ các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và một phần NK từ nước ngoài. “Phản hồi từ các DN sản xuất mây tre đan Hà Nội cho thấy, nguồn cung nguyên liệu đầu vào trong những năm qua chủ yếu thông qua con đường tiểu ngạch, quy mô nhỏ, sản lượng thấp, thường xuyên biến động, thiếu ổn định cả về thời gian giao hàng, số lượng lẫn chất lượng nguyên liệu. Điều này phần nào tác động không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là khi các DN triển khai các đơn hàng lớn. Nhiều DN, cơ sở sản xuất do không tìm được nguồn cung nguyên liệu ổn định đã phải dừng một số đơn hàng XK có giá trị lớn”, ông Thủy nói.
Để thúc đẩy ngành XK mây tre đan phát triển mạnh mẽ, khai thác tốt hơn dư địa thị trường, các chuyên gia cho rằng, cần xây dựng chiến lược phát triển rõ ràng cho ngành này. Trên cơ sở đó, các làng nghề, người dân, DN và các cơ quan quản lý nhà nước có sự phối hợp chặt chẽ để đưa ra các giải pháp đồng bộ như: Quy hoạch vùng nguyên liệu, xây dựng các trung tâm xử lý, bảo quản nguyên liệu và đổi mới mẫu mã sản phẩm… Về phía DN, tự xây dựng chiến lược mở rộng thị trường, kiếm tìm thị trường mới thay các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Nhật Bản.. được xem là nhiệm vụ quan trọng. Cùng với đó, các DN cũng phải chủ động tìm hiểu từng thị trường kỹ hơn để đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Đặt sự phát triển của ngành mây tre đan trong bối cảnh kinh tế đất nước hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới như hiện nay, không ít quan điểm cho rằng, khi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết, hàng rào thuế quan bị gỡ bỏ, các hàng rào phi thuế quan sẽ tăng lên. Khi đó, ngành hàng mây tre đan còn phải đặc biệt lưu tâm tới nâng cao chất lượng sản phẩm, nhất là đáp ứng các tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật chất lượng mà các nước dựng lên…

Comments