Skip to main content

Vận đơn (Bill of Lading): từ lí thuyết ở Đại học đến thực tế trong nghề Xuất nhập khẩu

Trong hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa là khâu tạo ra giá chị gia tăng cho hàng hóa, không làm thay đổi bản chất, tính chất, thành phần cấu tạo chính của hàng hóa. Và, vận tải cũng góp phần làm đảm bảo hoặc tăng thêm chất lượng của hàng hóa trong suốt quá trình của nó. Trong hoạt động vận tải, thì vận chuyển góp một phần không nhỏ về tính quyết định thời gian, chất lượng, và giá thành. Trong hoạt động vận chuyển khâu nào cũng quan trọng, chứng từ nào cũng quan trọng nhưng có một chứng từ chúng ta không thể bỏ qua và có bất kỳ sơ suất nào, đó chính là Vận đơn (Bill of Lading)
A. Tổng quan về Vận đơn
Khái niệm về vận đơn:
Vận tải đơn (thường hay gọi là vận đơn đường biển, vận đơn hàng không, giấy gửi hàng đường sắt,…) là một chứng từ vận tải do người vận chuyển, hoặc thuyền trưởng (đường biển) hoặc đại lý của người vận chuyển ký phát sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc hàng hóa đã được nhận và chờ xếp lên tàu.
Chức năng của vận đơn:
+ Nó là bằng chứng xác nhận hợp đồng vận tải đã được ký kết và chỉ rõ nội dung của hợp đồng đó. Với chức năng này, nó xác định quan hệ pháp lý giữa người vận tải và người chủ hàng, mà trong đó, đặc biệt là quan hệ pháp lý giữa người vận tải và người nhận hàng.
+ Nó là biên lai của người vận tải xác nhận đã nhận hàng để chuyên chở. Người vận tải chỉ giao hàng cho người nào xuất trình trước tiên vận đơn đường biển hợp lệ mà họ đã ký phát ở cảng xếp hàng.
+ Nó là chứng từ xác nhận quyền sở hữu đối với những hàng hóa đã ghi trên vận đơn. Với chức năng này, vận đơn là một loại giấy tờ có giá trị, được dùng để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng.
Tác dụng của vận đơn:
+ Làm căn cứ khai hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa,
+ Làm tài liệu kèm theo hóa đơn thương mại trong bộ chứng từ mà người bán gửi cho người mua (hoặc ngân hàng) để thanh toán tiền hàng,
+ Làm chứng từ để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng hàng hóa,
+ Làm căn cứ xác định số lượng hàng hóa đã được người bán gửi cho người mua, dựa vào đó người ta thống kê, ghi sổ và theo dõi việc thực hiện hợp đồng.
Nội dung của vận đơn: thường chú ý đến những điểm sau đây
– Tên và địa chỉ người vận tải, những chỉ dẫn khác theo yêu cầu,
– Cảng xếp hàng,
– Cảng dỡ hàng,
– Tên và địa chỉ người gửi hàng,
– Tên và địa chỉ người nhận hàng, (rất quan trọng)
– Đại lý, bên thông báo chỉ định,
– Tên hàng, ký mã hiệu, số lượng kiện, trọng lượng cả bì hoặc thể tích,
– Cước phí và phụ phí trả cho người vận tải, điều kiện thanh toán,
– Thời gian và địa điểm cấp vận đơn,
– Số bản gốc vận đơn,
– Chữ ký của người vận tải (hoặc của thuyền trưởng hoặc người đại diện của thuyền trưởng, hoặc đại lý),
Đây là qui định về nguồn luật điều chỉnh các điều khoản của vận đơn cũng như giải quyết sự tranh chấp giữa chủ hàng và người vận tải. Nguồn luật này, ngoài luật quốc gia còn có cả các công ước quốc tế có liên quan như qui tắc La Haye và công ước Brussel 25/8/1924, Nghị định thư Visby 1968hoặc công ước Hamburg 1978 về vận đơn đường biển,
Phân loại vận đơn
1/ Căn cứ vào cách chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn
+ Vận đơn đích danh (Straight Bill of Lading)
+ Vận đơn theo lệnh (to Order Bill of Lading)
Ví dụ: công ty SONY bán hàng cho công ty SAO MAI, công ty SONY là người gửi, công ty SAO MAI là người nhận.
*/ Trường hợp thứ nhất, vận đơn được lập theo lệnh người gửi
Ở mục: “Consignee” người ta có thể ghi “to the order of shipper” hoặc “to the order of SONY” hoặc nếu chỉ ghi “to the order” thì cũng phải hiểu đó là theo lệnh người gửi. Với vận đơn này, mặt sau phải có ký hậu chuyển nhượng của công ty SONY. Ký hậu như thế nào là đúng???
*/ Trường hợp thứ hai, vận đơn được lập theo lệnh người nhận
*/ Trường hợp thứ ba, vận đơn được lập theo lệnh người thứ ba (người thứ ba thường là ngân hàng)
+ Vận đơn xuất trình (to Bearer Bill of Lading)
2/ Căn cứ vào cách phê chú trên vận đơn
+ Vận đơn hoàn hảo (Clean Billof Lading)
+ Vận đơn không hoàn hảo (Unclean Bill of Lading)
3/ Căn cứ vào cách chuyên chở người ta chia ra:
+ Vận đơn chở suốt (Through Bill of Lading)
+ Vận đơn đi thẳng (Direct B/L)
4/ Nếu so sánh thời gian cấp vận đơn với thời gian bốc hàng lên tàu thì người ta chia ra:
+ Vận đơn đã xếp hàng (Shipped on Board B/L)
+ Vận đơn nhận hàng để xếp (Received for Shipment B/L)
Ngoài những vận đơn như đã nêu ở trên, 2 loại vận đơn sau đây cũng thường được nói đến đó là vận đơn đến chậm và vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.
+ Vận đơn đến chậm (Stale B/L)
+ Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Charter Party B/L)
5/ Vận đơn sử dụng trong vận tải đa phương thức. Vận đơn của người giao nhận (House Bill of Lading – HBL) …

6/ Căn cứ vào quan hệ trong việc trả hàng của vận đơn
+ Vận đơn chủ (Master Bill of lading)
+ Vận đơn thứ cấp (House Bill of lading) hay còn gọi là vận đơn của người giao nhận, người giao nhận là vận đơn do người giao nhận ký phát khi họ thực hiện chức năng của người vận chuyển.
7/ Căn cứ vào nơi nộp vận đơn
+ Vận đơn nộp tải cảng bốc hàng (Surrendered Bill of lading)
+ Vận đơn nộp tại cảng trả hàng (Bill of lading Presented at port of discharge)
8/ Một số loại vận đơn khác
– Vận đơn ký phát theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến (Charter Party B/L) là vận đơn được sử dụng trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển theo các điều khoản của hợp đồng vận chuyển theo chuyến. Trên vận đơn thường ghi câu: “sử dụng với hợp đồng vận chuyển theo chuyến” (To be used with Charter Party). Mặt sau của vận đơn không có các điều khoản về điều kiện vận chuyển. Vì vậy, các điều khoàn của hợp đồng vận chuyển theo chuyến cũng được áp dụng cho vận đơn.
– Vận đơn đã xuất trình (Surrendered B/L) là vận đơn mà người giao hàng, sau khi nhận được trọn bộ vận đơn, đã xuất trình một bản gốc cho người vận chuyển hoặc đại lý của họ tại cảng xếp hàng. Trong trường hợp vận đơn đã xuất trình thì người vận chuyển có trách nhiệm chỉ thị cho thuyền trưởng hoặc đại lý của mình ở cảng dỡ hàng giao hàng cho người nhận hàng mà không cần yêu cầu xuất trình vận đơn gốc.
– Vận đơn thay đổi (Switch B/L) là vận đơn được cấp lại theo yêu cầu của người giao hàng hay người nắm giữ vận đơn (B/L holder) để thay đổi một số chi tiết trên vận đơn như: cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng, số lượng hàng, ngày ký vận đơn v.v… nhằm đáp ứng các yêu cầu trong việc mua bán, chuyển nhượng hàng hóa ghi trên vận đơn. Về nguyên tắc, đối với một lô hàng không được phép cấp hai bộ vận đơn cùng song song tồn tại. Vì vậy, thông thường người vận chuyển chỉ ký phát bộ vận đơn thứ hai sau khi đã thu hồi được bộ vận đơn thứ nhất.
– Vận đơn cho bên thứ ba (Third party B/L) là vận đơn mà trên đó có ghi người thụ hưởng thư tín dụng (L/C) không phải là người giao hàng mà là một người khác. Vận đơn này được sử dụng trong trường hợp người có hàng hóa xuất khẩu ủy thác qua một đơn vị xuất nhập khẩu.
Ngoài những loại vận đơn nêu trên, những năm gần đây trong thực tiễn hàng hải xuất hiện một loại chứng từ vận chuyển có tên gọi là “Sea-Way Bill” (giấy gửi hàng đường biển, còn gọi là Sea Waybill, Seaway Bill, Waybill). Chứng từ này không giao dịch, chuyển nhượng được nhưng nó rất tiện lợi vì người nhận hàng có thể nhận được hàng mà không cần xuất trình Sea-Way Bill gốc. Tuy nhiên, cho đến nay Sea-Way Bill phần lớn được sử dụng để vận chuyển hành lý cá nhân, hàng mẫu, hàng phi mậu dịch và hàng hóa buôn bán theo phương thức ghi sổ (open account trading) giữa các bạn hàng tin cậy.
B. Những vướng mắc thường gặp khi kiểm tra vận đơn đường biển
1. Ngày giao hàng trên B/L
Tầm quan trọng của ngày giao hàng: Ngày giao hàng là căn cứ để các bên tham gia thương mại và thanh toán quốc tế khẳng định người bán đã thực hiện đúng thời hạn giao hàng được quy định trong Hợp đồng thương mại hoặc L/C.
Căn cứ để xác định ngày giao hàng:
– Trường hợp B/L có ghi chú On Board: Ngày “on board” sẽ là ngày giao hàng.
– Trường hợp B/L không ghi chú On Board: Ở phần sau, chúng ta cùng bàn luận tới vấn đề B/L có cần thiết có On board hay không và bao gồm những thông tin gì trong phần OBN. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét đối với trường hợp B/L không ghi chú On Board là được phép. Ðối với trường hợp này, ngày phát hành sẽ được coi là ngày giao hàng.
2. Ghi chú On Board trên B/L (OBN)
2.1. Tổng quan về ghi chú On Board trên B/L
Ghi chú On Board
On Board Notation (OBN) là việc xác nhận rằng hàng hóa đã được xếp lên tàu. Việc hàng hóa đã được xếp lên tàu không chỉ liên quan đến quyền lợi của người mua, người bán mà còn là cơ sở trong việc kiểm tra chứng từ bảo hiểm, vì vậy được tất cả các bên tham gia thương mại và thanh toán quốc tế đặc biệt quan tâm.
Khi nào cần có OBN?
OBN cần có khi những nội dung của B/L không chỉ ra một cách rõ ràng rằng hàng hóa đã được xếp lên con tàu được xuất phát tại cảng đi đúng như quy định của L/C.
Những nội dung nào cần phải có trong OBN?
Tùy thuộc vào nội dung và loại B/L sử dụng để quyết định những nội dung cần phải có trong OBN. Việc ghi chú OBN là nhằm xác định hàng hóa đó đã được xếp lên con tàu, tại cảng đi được quy định trong hợp đồng thương mại cũng như trong L/C. Việc có những nội dung nào trên OBN tùy thuộc vào những yếu tố sau đây:
(1) Ðó là B/L đã xếp hàng lên tàu hay B/L nhận hàng để chở?
(2) Nội dung ở trong mục cảng đi trên B/L có phù hợp với cảng đi quy định trong L/C hay không?
(3) Trên B/L có chặng trước hay không?
Mục đích của OBN là để xác định hàng hóa đã được xếp lên tàu tại cảng được quy định trong L/C, vì vậy bản thân từng B/L đã cho thấy sự cần thiết của OBN là khác nhau.
2.2. Những vướng mắc khi kiểm tra OBN
Các bên tham gia thanh toán thường đặt ra hàng loạt các câu hỏi trong quá trình kiểm tra OBN. Ðó là:
(1) Có chấp nhận B/L không ghi chú On Board hay không?
(2) OBN chỉ ghi ngày tháng có hợp lệ hay không?
(3) OBN có ngày tháng, tên tàu đã đủ điều kiện thanh toán hay chưa?
(4) Mọi OBN có phải chỉ ra ngày tháng, tên tàu, tên cảng đi, cảng đến?
Liên quan đến vấn đề này, dựa trên hàng loạt các tài liệu đã có của ICC, chúng tôi xin tổng hợp và phân loại như sau:
B/L không cần chỉ ra OBN
Các bên tham gia thanh toán sẽ chấp nhận B/L không có OBN nếu đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau đây:
– Nếu B/L là loại đã xếp hàng lên tàu.
– Cảng bốc hàng phù hợp với quy định của L/C.
– Trên B/L không có chặng trước cho dù có nơi nhận hàng để chở khác với cảng bốc hàng theo L/C.
Ví dụ: L/C quy định hàng được xếp từ Hải Phòng tới Oakland (California, USA). B/L được chấp nhận nếu B/L đó không chỉ ra chặng trước – precarriage và có in sẵn dòng chữ đã xếp hàng lên tàu – shipped on board.
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng:
Ðối với B/L nhận hàng để chở và không có chặng trước.
Ví dụ trên, nếu người thụ hưởng xuất trình vận đơn nhận hàng để chở – Receipt for shipment B/L thì cần có OBN, tuy nhiên chỉ cần chỉ ra ngày tháng OBN là phù hợp.
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng và tên con tàu thực tế:
Nếu B/L có ghi “con tàu dự định” hoặc quy định tương tự liên quan đến tên con tàu, thì việc ghi chú hàng đã xếp lên tàu, ghi rõ ngày giao hàng và tên con tàu là cần thiết.
Ví dụ: B/L thể hiện Intended vessel: MOONLIGHT III
=> Ngay cả khi hàng hóa thực tế được giao trên tàu MOONLIGHT III, B/L cần phải có OBN thể hiện:
Vessel: MOONLIGHT III
Date: …..
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng, tên tàu và cảng đi:
Thứ nhất, nếu trên B/L thể hiện có chặng trước, cho dù đó là shipped on board B/L hay Receipt for shipment B/L.
Ví dụ: L/C quy định hàng được chuyên chở từ Ðà Nẵng đến Long Beach, California, USA. Người thụ hưởng xuất trình shipped on board B/L chỉ ra nơi nhận hàng để chở là Hải Phòng, tàu S1 (precarriage); Port of loading là Ðà Nẵng, tàu S2. Ðể được thanh toán, B/L phải chỉ rõ ngày tháng, tên cảng và tên tàu trong phần ghi chú B/L như sau: On Board on Vessel S2 at Danang Port on (date…)
Thứ hai, OBN cần đầy đủ các thông tin về tên tàu, cảng đi và ngày tháng đối với B/L thể hiện tên cảng đi ở mục “Place of receipt” thay vì “Port of Loading”.
Ví dụ: L/C quy định Port of loading: Anwept
Trên mục Place of receipt thể hiện:
“Anwept Vessel: MOONLIGHT III Date …”
=> Trên B/L cần có dấu On Board thể hiện:
Port of Loading: Anwept
Vessel: MOONLIGHT III
Date: 25/12/2010
Thứ ba, OBN cần đầy đủ các thông tin về tên tàu, cảng đi và ngày tháng đối với B/L thể hiện cảng xếp hàng là dự định hoặc quy định tương tự liên quan.
Ví dụ: Port of Loading: intended Kobe port
=> Cần phải có OBN thể hiện các thông tin:
Port of Loading: Kobe
Vessel: … Date: …..
3. Cảng đi, cảng đến
Cảng đi và cảng đến trên B/L đòi hỏi phải phù hợp với quy định của L/C. Tuy nhiên, do nhiều hãng chuyên chở muốn phản ánh đầy đủ các thông tin trên bề mặt B/L từ nơi nhận hàng để chở cho đến nơi chuyển tải, cảng dỡ nhưng phần lớn trên B/L không có mục in sẵn chuyển tải, vì vậy, người phát hành B/L không đủ các mục in sẵn để điền thông tin vào ô thích hợp, dẫn đến tình trạng điền thông tin vào B/L không đúng vị trí. Những trường hợp thường gặp, đó là: tên cảng dỡ được điền vào Destination hoặc tên cảng bốc hàng được điền vào mục Place of receipt hoặc tên cảng chuyển tải được điền vào mục Port of unloading…
Ðối với những trường hợp này, đòi hỏi có sự ghi chú để chỉ ra đúng cảng được quy định trong L/C.
Ví dụ: L/C quy định: Port of loading: Marseilles Port of discharge: Thi Nghe
Thực tế có xảy ra chuyển tải tại Port of Anwept nên B/L thể hiện như sau: Place of receipt: Marseilles
Port of loading: Anwept
Port of discharge: Thi Nghe
=> trên B/L cần phải có dấu On Board thể hiện:
Port of loading: Marseilles
Vessel: …
Date: …
4. Người chuyên chở
Người chuyên chở cần được thể hiện rõ trên B/L. Một vấn đề đặt ra đối với việc phát hành B/L là người chuyên chở, người ký phát B/L và letter head của B/L có thể khác nhau. Vì vậy, cần thể hiện rõ tên của người chuyên chở trên bề mặt B/L.
Tên của người chuyên chở có thể thể hiện theo những cách chính sau đây:
Thứ nhất, người ký phát chỉ rõ là đại lý cho người chuyên chở.
Ví dụ: Ở ô signature của B/L PT.Sudameris Indonesia Tbk as agent for Titanic Line
Cách ghi này sẽ phù hợp (được chấp nhận) nếu trên B/L thể hiện:
Received by the carrier, Titanic Line
Thứ hai, người ký phát B/L chỉ rõ là đại lý của người chuyên chở mà tên của người chuyên chở được xác định rõ trong B/L
Ví dụ: Ở ô signature của B/L: As agent for the carrier
Trong B/L thể hiện: Received by the carrier, Titanic Line

C. Vận đơn điện tử (electric Bill of Lading)

Vận đơn truyền thống là văn bản do người vận chuyển xác nhận đã nhận hàng để chở trên tàu, có ghi các điều kiện vận chuyển và có thể là một văn bản về quyền sở hữu. Một e-Bill sao chép các chức năng của một vận đơn giấy truyền thống bằng cách áp dụng công nghệ bảo mật cao và một khung pháp lý ràng buộc các bên thông qua thỏa thuận về sử dụng e-Bill.

Những loại vận đơn nào có thể ký phát điện tử?

Cả hai loại vận đơn, chuyển nhượng và không thể chuyển nhượng (loại thứ hai còn được gọi là vận đơn đích danh) có thể được cấp điện tử. Một e-Bill được chuẩn bị bằng cách điền các thông tin khác nhau như mô tả hàng hóa, chi tiết của tàu, cảng bốc và dỡ hàng… và sau đó được tải lên hệ thống. Hơn nữa, vận đơn của người thuê vận chuyển cũng có thể được phát hành dưới dạng e-Bill bằng cách liên kết (link) với người vận chuyển theo hợp đồng (contractual carrier). Nếu người vận chuyển không phải là chủ tàu, thì chủ tàu cần phải liên hệ với nhà cung cấp hệ thống e-Bill để đăng ký sử dụng.

Các công ước về vận chuyển hàng hóa quốc tế có áp dụng cho e-Bill?

Hiện tại, không có công ước vận chuyển hàng hóa quốc tế áp dụng cho e-Bill, do đó các bên sẽ phải tham chiếu, kết hợp với các quy định khác nhau theo thỏa thuận của hợp đồng nếu họ muốn áp dụng. Quy tắc Rotterdam, mặc dù chưa có hiệu lực, nhưng đã đưa ra giá trị như nhau giữa tài liệu giấy truyền thống và điện tử, đó là chứng từ vận chuyển điện tử.

Ai có thể tạo lập một e-Bill?         

Người vận chuyển hoặc người được người vận chuyển ủy quyền (đại lý hoặc người giao nhận có trách nhiệm làm tài liệu bằng giấy) có thể tạo lập, tải lên và phát hành một e-Bill hoặc người thay mặt người vận chuyển. Ví dụ, trong trường hợp Bolero, người vận chuyển sẽ cung cấp ID đăng nhập (log in ID) và chứng chỉ người dùng (user certificate) cho đại lý cổng tải (load port agent) để cho phép họ tạo e-Bill.        

Người vận chuyển vẫn kiểm soát và trực tiếp quản lý những đăng nhập này, essDOCS CargoDocs không dựa vào chữ ký số nằm trên máy tính của người dùng: người dùng được chứng thực với hệ thống thông qua xác thực hai yếu tố và do đó, bất kỳ bên thứ ba nào được người vận chuyển ủy quyền thực hiện essDOCS là đủ điều kiện thay mặt họ tạo lập, tải lên và phát hành e-Bill.

Điều gì sẽ xảy ra nếu e-Bill cần thay đổi?         

Mọi thay đổi đối với một e-Bill phải được người vận chuyển đồng ý. Nếu đạt được sự chấp thuận đó, hệ thống e-Bill sẽ cung cấp những thay đổi được thực hiện một cách an toàn. Xử lý như thế nào với tài liệu giấy dùng để làm e-Bill? Điều quan trọng là tài liệu bằng giấy (được sử dụng để làm e-Bill) không được ban hành (ký phát) để không xảy ra tình trạng có hai phiên bản của cùng một vận đơn đang được lưu thông. Tài liệu giấy phải được hủy bỏ, được đánh dấu là bản sao hoặc bản nháp hoặc được bảo quản bằng một số cách khác. Điều này không khác gì với trường hợp ký phát một vận đơn thay thế cho vận đơn đã cấp.

Bạn có thể in e-Bill ra bản giấy không?         

Có thể in e-Bill ra giấy cũng giống như có thể sao chụp (photocopy) một vận đơn giấy, nhưng những việc này đơn thuần chỉ là làm các bản sao để có thể sử dụng các dữ liệu có trên vận đơn nhưng không có giá trị trong việc chuyển giao các quyền mà vận đơn có, được quản lý thông qua các chương trình máy tính về e-Bill.

Nếu bắt buộc phải có vận đơn giấy thì sao?         

Với Bolero việc chuyển sang chức năng giấy trong hệ thống cho phép người giữ e-Bill yêu cầu thay thế một e-Bill bằng một vận đơn giấy truyền thống. Một yêu cầu như vậy, nếu được người vận chuyển chấp nhận, sẽ được coi là nghiệp vụ đã nộp e-Bill (surrendered e-Bill) và người vận chuyển sẽ an toàn khi ký phát vận đơn giấy truyền thống. Nếu được sử dụng đúng cách, sẽ không xảy ra tình trạng e-Bill và vận đơn giấy của một lô hàng cùng song song tồn tại.         

Khi sử dụng essDOCS, người giữ e-Bill cũng có thể yêu cầu người vận chuyển “in chuyển đổi” e-Bill. Trong trường hợp này, khi người vận chuyển nhận được yêu cầu “in chuyển đổi”, e-Bill sẽ bị khóa để ngăn chặn bất kỳ hành động nào thực hiện trên hệ thống. Sau đó, người vận chuyển nhận được một phiên bản pdf của vận đơn và tùy chọn: tự mình ký tên hoặc yêu cầu một đại lý ký.         Ngay khi người vận chuyển hoặc đại lý của mình thực hiện “In Chuyển Đổi”, e-Bill ban đầu (original) sẽ bị hủy trong hệ thống và đưa vào lưu trữ. Sau đó, vận đơn giấy có chức năng là bản gốc và người vận chuyển thực hiện việc cấp vận đơn được áp dụng như trường hợp ký phát vận đơn giấy ngay từ ban đầu. Giống như Bolero, không bao giờ có tình trạng đồng thời tồn tại một bản e-Bill và một bản vận đơn giấy gốc.

Các hệ thống có an toàn không?         

Bolero và essDOCS áp dụng mức an toàn kỹ thuật và thiết bị (physical) cao nhất. Do đó, nguy cơ có ai thâm nhập vào hệ thống để thay đổi nội dung của e-Bill là rất ít khi xảy ra (minimal). Sở hữu vận đơn bằng giấy được thay bằng “kiểm soát độc quyền” (exclusive control) đối với dữ liệu điện tử (electronic record). Bolero sử dụng chứng chỉ số (được dùng trong ngân hàng để chuyển tiền điện tử) cung cấp một chữ ký mã hóa, duy nhất, trong khi essDOCS dựa vào một hệ thống chứng thực hai yếu tố (two factor authentication system).

Vận đơn đã nộp (surrendered bill of lading) được xử lý như thế nào?         

Người nhận hàng nộp e-Bill cho thuyền trưởng – vị này yên tâm rằng việc trả hàng được thực hiện theo một e-Bill ban đầu. Với Bolero, công việc này được thực hiện bằng cách chủ tàu nhận được thông báo từ Bolero qua email rằng một e-Bill đã được nộp. Việc này nhắc nhở chủ tàu đăng nhập vào hệ thống và xác nhận việc này. Ngoài việc nhận được xác nhận này, chủ tàu còn nhận được bản ghi điện tử (electronic log) của e-Bill và xác nhận của bên đã nộp e-Bill. Chủ tàu liên hệ với thuyền trưởng hoặc đại lý tại cảng trả hàng. Thuyền trưởng hoặc đại lý tại cảng trả hàng xác nhận với bên đã nộp e-Bill về mẫu vận đơn hoặc chứng minh nhân thân để trả hàng.         

Khi sử dụng essDOCS, người nhận hàng phải cung cấp qua hệ thống cho người vận chuyển mọi chi tiết cần thiết để đảm bảo thuyền trưởng/người vận chuyển biết hàng được dỡ và giao cho ai (ví dụ: dỡ hàng lỏng vào xe/bồn (tank) nào, biển số xe tải sẽ nhận hàng hoặc ai là người sẽ có mặt tại cảng để hướng dẫn thuyền trưởng dỡ hàng, Những hướng dẫn này có thể được kiểm tra chéo với lệnh giao hàng (delivery order) thông qua các kênh thuê vận chuyển để đảm bảo mọi việc đều phù hợp với nhau. Việc sử dụng e-Bill làm giảm đáng kể triển vọng giao hàng mà không cần ký phát một e-Bill, vì e-Bill có thể thực hiện thông qua chuỗi thương mại nhanh hơn (có thống kê cho rằng vận đơn e-Bill đã được giao dịch và nộp lại cho thuyền trưởng trong vòng 13 phút, trước khi tàu rời cảng dỡ hàng). Do đó, ngay cả khi việc mua bán được thương lượng ngay trước khi bắt đầu dỡ hàng thì e-bill vẫn có thể được giao dịch qua chuỗi và nộp cho thuyền trưởng/người vận chuyển để nhận hàng.E-Bill có được hội bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (P & I) chấp nhận không?         

Hai hệ thống giao dịch điện tử chính hiện đang có mặt trên thị trường là Bolero International Ltd. (Bolero) và essDOCS đã được Nhóm quốc tế các hội bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (International P & I Clubs) chấp nhận. Như vậy có nghĩa là, bảo hiểm P & I đối với e-Bill cũng có giá trị pháp lý như đối với vận đơn giấy.

Giá trị (position) của e-Bill đối với thư bồi thường là gì?         

Theo luật, chủ tàu có nghĩa vụ dỡ hàng và giao cho bên nộp một bản vận đơn gốc cảng dỡ hàng, dù đó là vận đơn giấy hoặc các bên đã đồng ý thực hiện theo hệ thống điện tử, nhưng chủ tàu không buộc phải chấp nhận thư cam kết bồi thường (Letter of Indemnity) nếu như không có vận đơn gốc. Việc chấp nhận thư cam kết bồi thường không làm cho lệnh dỡ hàng trở nên hợp pháp. Nó đơn thuần chỉ là cung cấp cho chủ tàu cơ sở bảo vệ đối với bất kỳ yêu cầu bồi thường nào về giao hàng nhầm bởi một bên có quyền nhận hàng.         

Hội P & I không bồi thường cho chủ tàu đối với việc trả hàng theo thư cam kết bồi thường, bởi vì bằng hành động chấp nhận thư cam kết bồi thường, chủ tàu đã tự chấp nhận rủi ro không đáng có. Vận đơn theo hình thức điện tử không có ảnh hưởng gì đến quy định này (quy định trả hàng theo thư cam kết bồi thường đối với vận đơn giấy). Tuy vậy, rủi ro không có sẵn vận e-Bill tại cảng hàng là rất ít khi xảy ra. Việc ký hậu và chuyển quyền sở hữu theo một e-Bill xảy ra tức thời và e-Bill sẽ luôn có sẵn khi tàu đến cảng dỡ hàng.         

Theo hệ thống e-Bill do esDOCS và Bolero điều hành, mọi việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với hàng hóa thuộc vận đơn chuyển nhượng (negotiable bill of lading) ngay lập tức được ghi lại và duy trì đăng ký an toàn mà chủ tàu/đại lý có thể truy cập. Khi tàu đến cảng dỡ hàng, chủ tàu sẽ biết người nhận hàng cuối cùng là ai, và người nhận hàng cuối cùng có nghĩa vụ nộp lệnh dỡ hàng (discharge order) đúng và đầy đủ cho người vận chuyển.
Vận đơn điện tử có thay thế được vận đơn giấy trong mọi trường hợp không?         

Việc sử dụng e-Bill đang gia tăng. Một số người thuê vận chuyển đã triển khai e-Bill trên một số tuyến chuyên chở hàng khô. Những dấu hiệu ban đầu cho thấy kết quả rất đáng khích lệ và gần như chắc chắn chúng ta sẽ thấy việc sử dụng e-Bill ngày càng lan rộng.         

Có 3 ưu điểm chính của việc sử dụng e-Bill so với vận đơn giấy truyền thống là tiết kiệm thời gian, giảm bớt gánh nặng hành chính, và trong nhiều trường hợp, không cần chủ tàu phải quyết định có nên giao hàng không thu hồi vận đơn gốc mà chỉ dựa vào thư cam kết bồi thường hay không. Thay vì yêu cầu nhiều bản gốc và bản sao mất vài ngày để xử lý, chỉ một tài liệu điện tử được cấp và xử lý an toàn thông qua hệ thống là loại bỏ được sự chậm trễ của tài liệu cũng như khả năng gian lận.

Ghi chú: FIATA & essDOCS Joint Press Release – Zurich, 29 March 2018:

         The International Federation of Freight Forwarders Associations (FIATA) has signed a Memorandum of Understanding (MoU) with essDOCS to provide a framework for further cooperation in digitising Bills of Lading.         

FIATA introduces an electronic FIATA Bill of Lading (eFBL) offering safe, secure, reliable, efficient, and faster paperless trade to its members. As part of the project plan, FIATA’s Advisory Body Information Technology will work on the digitisation of FIATA documents, starting with the eFBL and in a second phase the electronic House Bill of Lading (eHBL issued by NVOCCs) plus other FIATA documents. With essDOCS’ assistance, its CargoDocs electronic exchange will help prevent fraudulent copying and errors that might be associated with paper documents. This is part of the long-term strategy identified by FIATA with the involvement of several FIATA entities and experts.         

Five FIATA Association Members from diverse regions will participate in the pilot project to test the new CargoDocs-customized FIATA system. The pilots will ensure a seamless transition to a paperless environment. They will be conducted across pre-specified trade lanes and will be guided by FIATA Association Members.         

Specifically, the pilots will be carried out in 3 phases. Initially, FIATA members will simply replace their current printing of FBLs with an online, collaborative tool housed within essDOCS’ secure hosted servers. Members will be able to either draft their FBL online, and share it with their shipper before it is printed and signed, or allow their shipper to draft their own FBL before being printed and signed. The FBLs will be printed onto blank FBL paper which will be distributed by FIATA and signed by FIATA NVOCCs.          

Phase 2 of the project will add various security features to help identify fraudulent FBLs and will be extended to include members’ own House Bills of Lading. In phase 3, FIATA members will be able to adopt fully electronic FIATA Bills of Lading (eFBL) or House Bills of Lading (eHBL).         

In October 2017 at the FIATA World Congress, an MoU was signed with GS1 as part of the step-by-step approach for identifying and migrating FIATA documents into a digital platform, using the GS1 global unique identification system. This project will enable the global FIATA community to offer secure high-quality intermodal solutions for the benefit of all supply chain stakeholders.Electronic Bill of Lading – How is paperless trade possible?
         In international trade letters of credit (L/C) as payment/financing instrument facilitate the business transaction if the seller and the buyer do not yet have a trust relationship robust enough to bridge the economic and legal distances between countries. When the goods are shipped using at least two different transportation modes, the L/C will call for a standardized document, the “multimodal transport bill of lading,” to acknowledge the receipt of cargo. Paper bills of lading are the medium of choice today, causing all involved parties difficulties, costs, and inefficiencies.So how can the trade industry benefit from digitalisation?         

The obvious answer is to deploy a software solution, which enables all parties to access the bill as an electronic document. An electronic bill of lading (or e B/L) is the legal and functional equivalent of a paper bill of lading. The electronic bill of lading must digitize the core functions of a paper bill of lading, namely its legal acceptance as a receipt, as evidence of or containing the contract of carriage and as a document of title. For an industry-wide adoption, which is needed to pave the way for parties in all countries to use such a system, industry accepted best practices need to be understood, which is what this article is all about.         

With a letter of credit, the bank of the buyer states that it will pay the amount due to the seller on presentation of a set of specified documents, the “multimodal transport bill of lading” (alternatively the term “combined transport bills of lading” is used). For the consignor (shipper) to receive the money under the L/C, strict adherence to the terms of the letter of credit is necessary. Otherwise, the bank that issued the letter of credit might refuse the payment due to discrepancies. Thus, in the follow section is a list of the six main functionalities, to understand what an electronic version of the multimodal transport bill of lading needs to replicate – namely the identification, signature, correct address, port/airport, content and trade terms and presentation of documents.


Comments

Popular posts from this blog

SỔ TAY HƯỚNG DẪN CÁCH KHAI BÁO VNACCS VỀ CÁC CCHQ TẠI TP HCM

SỔ TAY HƯỚNG DẪN CÁCH KHAI BÁO VNACCS VỀ CÁC CCHQ TẠI TP HCM MỘT SỐ THAY ĐỔI MỚI THEO TT38 1/ Không phải khai báo  Mã NPL, SP, Định mức …. 2/ Không phải khai báo Hợp đồng gia công  / Phụ lục hợp đồng … 3/ Không phải Thanh khoản theo từng hợp đồng GC nữa , mà khi kết thúc HĐthì làm Công văn xin xử lý NPL máy móc dư thừa (Mẫu 17 PL5 TT38) …, và làm Báo cáo Quyết toán theo năm tài chính (mổi năm 1 lần). 4/ Không phải khai báo Thanh lý SXXK như trước nữa , mà DN làm Hồ sơ Xin hoàn thuế/ không thu thuế (được thực hiện nhiều lần trong năm). Và làm Báo cáo quyết toán chung theo năm tài chính (mỗi năm 1 lần) 5/ Được phép khai sửa “Phân loại cá nhân tổ chức” trên TK  bằng cách ghi thông tin Đúng vào ô ghi chú, không phải Hủy TK. 6/ Được phép khai sửa “Ngày khai báo (dự kiến)” trên TK  bằng cách ghi thông tin Đúng vào ô ghi chú, không phải Hủy TK. 7/ Được phép sửa “Mã địa điểm lưu kho chờ thông quan dự kiến”  trên TK bằng cách: -  Luồng xanh (thông quan) : Khai AM...

Tạm nhập, tái xuất và Tạm xuất, tái nhập máy móc thiết bị

1. Tạm nhập, tái xuất máy móc, thiết bị của doanh nghiệp nội địa (không phải trả phí thuê) 1. Khái niệm, đặc điểm: - Là việc máy móc, thiết bị (MMTB) được đưa từ nước ngoài hoặc các khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (ví dụ: KCX, DNCX...) vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất chính MMTB đó ra khỏi Việt Nam. - Doanh nghiệp tạm nhập, tái xuất (TNTX) không phải trả phí thuê cho đối tác. 2. Thủ tục tạm nhập: * Hồ sơ: - Công văn xin tạm nhập MMTB - Hợp đồng/Biên bản thỏa thuận mượn MMTB; - Invoice - Packing list - Bill (nếu nhập từ nước ngoài) - Khác * Thủ tục: - Phải xin Giấy phép quản lý chuyên ngành nếu thuộc danh mục phải xin giấy phép của các Bộ, ngành. - Thực hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu. - Mở tờ khai tạm nhập loại hình G12 theo công văn số  2765/TCHQ-GSQL  ngày 01/4/2015: + Chịu thuế nhập khẩu tính trên trị giá MMTB...