Skip to main content

THỦ TỤC CẦN BIẾT KHI XUẤT KHẨU HÀNG QUA HOA KỲ


Có thể nói không có nước nào mà việc kê khai thông tin sơ lược hàng hóa cho hải quan (Manifest) lại phức tạp và nghiêm ngặt như Mỹ. Nắm được các thủ tục kê khai này sẽ giúp cho các nhà xuất khẩu Việt Nam chủ động đưa hàng hóa vào thị trường Mỹ một cách nhanh chóng và dễ dàng. Cho đến nay hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ phải chịu các biện pháp an ninh sau:
1. Kê khai hải quan tự động (Automatic Manifest System - AMS)
Thông tin của lô hàng nhập khẩu vào Mỹ phải được kê khai cho Hải quan Mỹ 48 tiếng trước khi tàu ở cảng chuyển tải (Singapore hay Kao Hsiung-Taiwan) khởi hành đến Mỹ. Thủ tục này được áp dụng từ đầu năm 2003 và nhà xuất khẩu có trách nhiệm kê khai thông tin này ngay tại cảng xếp hàng ban đầu.
Hiện nay công việc khai AMS rất dễ dàng và nhanh chóng. Các công ty giao nhận vận tải (gọi tắt là đại lý vận tải) sẽ giúp nhà xuất khẩu Việt Nam kê khai thông tin này. Chi phí cho việc khai AMS là khoảng 25 đô la Mỹ cho một vận đơn hàng hải (Ocean B/L).
2. Kê khai an ninh dành cho nhà nhập khẩu (Importer Security Filing - ISF)
Ngoài việc phải kê khai thông tin hải quan Mỹ tự động, tháng 1-2010 Hải quan Mỹ và Cơ quan bảo vệ biên giới Mỹ chính thức áp dụng thêm thủ tục kê khai an ninh dành cho nhà nhập khẩu (ISF).
Ngoài các thông tin giống như khai AMS, thủ tục khai ISF yêu cầu nhà nhập khẩu ở Mỹ phải cung cấp thêm thông tin khác như nhà sản xuất, thông tin của nhà nhập khẩu (importer of record number), mã số hàng hóa (commodity HTSUS number) và nhà vận tải đóng hàng vào container (consolidatior). Thông tin này cũng được yêu cầu phải được kê khai cho Hải quan Mỹ 48 tiếng trước khi tàu ở cảng chuyển tải khởi hành đến Mỹ.
Thường việc kê khai ISF sẽ cùng lúc với việc khai AMS và các đại lý vận tải sẽ giúp nhà nhập khẩu kê khai thông tin này. Chi phí cho việc kê khai ISF cũng khoảng 25 đô la Mỹ cho một vận đơn hàng hải.
3. Soi container (X-ray)
Ngoài việc phải kê khai thông tin AMS và ISF, Hải quan Mỹ còn áp dụng biện pháp soi container đối với những container nào có sự nghi ngờ về an ninh, hoặc đơn giản là kiểm tra ngẫu nhiên. Việc soi container này có thể diễn ra ở cảng chuyển tải hoặc ở cảng đích ở Mỹ.
Chính vì những thủ tục kê khai rắc rối trên mà người làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa đi Mỹ thường gặp áp lực về việc kê khai thông tin hàng hóa cho các đại lý vận tải. Nhất là hiện nay các hãng tàu (như Maersk, Hanjin, Wanhai...) đang cho triển khai dịch vụ đi thẳng từ cảng Cái Mép đến Mỹ mà không phải qua cảng chuyển tải. Cho nên nếu ngày tàu chạy là thứ Tư thì thứ Bảy tuần trước đó các nhà xuất khẩu Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thành việc kê khai thông tin hàng hóa cho đại lý vận tải, mặc dù ngày thứ Hai tuần sau nhà xuất khẩu mới tiến hành lấy container để đóng hàng và làm thủ tục xuất đi.
Đã có một số sự việc phát sinh, xin được liệt kê để các nhà xuất khẩu Việt Nam lưu ý:
i) Chậm kê khai AMS: Một khi nhà xuất khẩu không thể hoàn thành việc kê khai AMS theo quy định thì lô hàng đó sẽ không được xếp lên tàu ở cảng Cái Mép để xuất đi Mỹ, trừ khi lô hàng này được chuyển qua cảng chuyển tải (Singapore hay Kao Hsiung). Do đó nhà xuất khẩu cần tham vấn lịch tàu của đại lý vận tải để có kế hoạch chuẩn bị thông tin hàng hóa trước.
ii) Chỉnh sửa AMS: Việc chỉnh sửa AMS này thường xảy ra do số lượng hàng hóa thực tế xuất đi có sự khác biệt so với lúc kê khai AMS ban đầu, hoặc thông tin về người nhận hàng sai sót, khi đại lý vận tải đã hoàn tất việc kê khai. Lúc đó đại lý vận tải phải kê khai lại AMS và Hải quan Mỹ sẽ áp dụng mức lệ phí chỉnh sửa là 40 đô la Mỹ cho một lần chỉnh sửa.
iii) Chậm kê khai ISF: Trên nguyên tắc việc kê khai ISF do nhà nhập khẩu chịu trách nhiệm. Nhưng nếu chậm kê khai ISF hoặc kê khai không đầy đủ thì nhà nhập khẩu có thể chịu mức phạt lên đến 5.000 đô la Mỹ/lô hàng. Thường các công ty vừa và nhỏ hay các doanh nghiệp gia đình ở Mỹ hay bị vướng mắc về việc khai ISF này. Đã có trường hợp công ty nhập khẩu là một công ty lớn ở Mỹ cũng bị sai sót khi kê khai ISF. Vì vậy các công ty xuất khẩu Việt Nam cần đảm bảo với nhà nhập khẩu Mỹ đã thông suốt việc kê khai ISF này.
iv) Hàng hóa bị giữ lại để soi container (X-ray): Đây là vướng mắc lớn nhất hiện nay mà các công ty xuất khẩu hay gặp phải. Lưu ý là việc giữ lô hàng lại để soi hàng là do Hải quan Mỹ thực hiện lúc container đang ở cảng chuyển tải hoặc container đã đến Mỹ. Tùy theo điều kiện thương mại (FOB hoặc CIF) mà nhà xuất khẩu hay nhà nhập khẩu Mỹ chịu trách nhiệm chi trả chi phí này. Chi phí phát sinh bao gồm: phí soi container (thường khoảng 200-300 đô la Mỹ/container 40 feet) và chi phí lưu container ở cảng (vì thời gian để kiểm tra thường mất một tuần hoặc hơn).
Hiểu được quy trình này các doanh nghiệp sẽ tránh được những rắc rối hay hiểu lầm đáng tiếc. Ví dụ, một công ty xuất hàng đi Mỹ tham dự hội chợ triển lãm nhưng bị Hải quan Mỹ giữ lại soi hàng. Do thời gian kiểm tra lâu nên công ty xuất khẩu không kịp đưa hàng vào triển lãm (cần nhớ Hải quan Mỹ rất nguyên tắc) và công ty nọ khiếu nại đòi đại lý vận tải bồi thường. Điều này là không đúng vì trường hợp này không phải lỗi của đại lý vận tải.
Trường hợp khác, có công ty xuất khẩu đồ gỗ thường hay bị Hải quan Mỹ giữ hàng để kiểm tra. Mặc dù được giải thích là do ngẫu nhiên nhưng công ty nọ vẫn cho rằng chất lượng dịch vụ của đại lý vận tải không tốt và từ chối dịch vụ vận tải của đại lý này cho những lô hàng sau đó.
Tương tự, có trường hợp lô hàng dụng cụ nhà bếp bị giữ để soi container ở cảng chuyển tải (châu Âu). Do sự không hiểu nhau giữa các bên mà lô hàng bị lưu container ở cảng chuyển tải 16 ngày, với mức phí lưu container là gần 40 đô la Mỹ/ngày cho một container 40 feet.
Nếu lô hàng không xuất đi Mỹ thì nhà xuất khẩu phải yêu cầu đại lý vận tải tuyệt đối không được chuyển tải (transit) ở Mỹ (kể cả bằng đường hàng không). Vì khi đó lô hàng bắt buộc phải chịu những thủ tục của Hải quan Mỹ kể trên. Có trường hợp lô hàng may mặc xuất đi Nam Mỹ nhưng lại được chuyển tải ở Los Angeles (Mỹ) và đã bị Hải quan Mỹ giữ lại để kiểm tra.
Điều quan trọng là khi sự việc xảy ra nhà xuất khẩu nên thông báo cho nhà nhập khẩu biết và cùng với đại lý vận tải theo dõi tình hình sát sao để đảm bảo lô hàng được giải phóng nhanh nhất. Như vậy có thể tránh việc tranh cãi không cần thiết hay thương lượng về mức phí này mà có thể ảnh hưởng đến thời gian giải phóng lô hàng.


Comments

Popular posts from this blog

Vận đơn (Bill of Lading): từ lí thuyết ở Đại học đến thực tế trong nghề Xuất nhập khẩu

Trong hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa là khâu tạo ra giá chị gia tăng cho hàng hóa, không làm thay đổi bản chất, tính chất, thành phần cấu tạo chính của hàng hóa. Và, vận tải cũng góp phần làm đảm bảo hoặc tăng thêm chất lượng của hàng hóa trong suốt quá trình của nó. Trong hoạt động vận tải, thì vận chuyển góp một phần không nhỏ về tính quyết định thời gian, chất lượng, và giá thành. Trong hoạt động vận chuyển khâu nào cũng quan trọng, chứng từ nào cũng quan trọng nhưng có một chứng từ chúng ta không thể bỏ qua và có bất kỳ sơ suất nào, đó chính là Vận đơn (Bill of Lading) A. Tổng quan về Vận đơn Khái niệm về vận đơn: Vận tải đơn (thường hay gọi là vận đơn đường biển, vận đơn hàng không, giấy gửi hàng đường sắt,…) là một chứng từ vận tải do người vận chuyển, hoặc thuyền trưởng (đường biển) hoặc đại lý của người vận chuyển ký phát sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc hàng hóa đã được nhận và chờ xếp lên tàu. Chức năng của vận đơn: + Nó là bằng chứng...

SỔ TAY HƯỚNG DẪN CÁCH KHAI BÁO VNACCS VỀ CÁC CCHQ TẠI TP HCM

SỔ TAY HƯỚNG DẪN CÁCH KHAI BÁO VNACCS VỀ CÁC CCHQ TẠI TP HCM MỘT SỐ THAY ĐỔI MỚI THEO TT38 1/ Không phải khai báo  Mã NPL, SP, Định mức …. 2/ Không phải khai báo Hợp đồng gia công  / Phụ lục hợp đồng … 3/ Không phải Thanh khoản theo từng hợp đồng GC nữa , mà khi kết thúc HĐthì làm Công văn xin xử lý NPL máy móc dư thừa (Mẫu 17 PL5 TT38) …, và làm Báo cáo Quyết toán theo năm tài chính (mổi năm 1 lần). 4/ Không phải khai báo Thanh lý SXXK như trước nữa , mà DN làm Hồ sơ Xin hoàn thuế/ không thu thuế (được thực hiện nhiều lần trong năm). Và làm Báo cáo quyết toán chung theo năm tài chính (mỗi năm 1 lần) 5/ Được phép khai sửa “Phân loại cá nhân tổ chức” trên TK  bằng cách ghi thông tin Đúng vào ô ghi chú, không phải Hủy TK. 6/ Được phép khai sửa “Ngày khai báo (dự kiến)” trên TK  bằng cách ghi thông tin Đúng vào ô ghi chú, không phải Hủy TK. 7/ Được phép sửa “Mã địa điểm lưu kho chờ thông quan dự kiến”  trên TK bằng cách: -  Luồng xanh (thông quan) : Khai AM...

Tạm nhập, tái xuất và Tạm xuất, tái nhập máy móc thiết bị

1. Tạm nhập, tái xuất máy móc, thiết bị của doanh nghiệp nội địa (không phải trả phí thuê) 1. Khái niệm, đặc điểm: - Là việc máy móc, thiết bị (MMTB) được đưa từ nước ngoài hoặc các khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (ví dụ: KCX, DNCX...) vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất chính MMTB đó ra khỏi Việt Nam. - Doanh nghiệp tạm nhập, tái xuất (TNTX) không phải trả phí thuê cho đối tác. 2. Thủ tục tạm nhập: * Hồ sơ: - Công văn xin tạm nhập MMTB - Hợp đồng/Biên bản thỏa thuận mượn MMTB; - Invoice - Packing list - Bill (nếu nhập từ nước ngoài) - Khác * Thủ tục: - Phải xin Giấy phép quản lý chuyên ngành nếu thuộc danh mục phải xin giấy phép của các Bộ, ngành. - Thực hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu. - Mở tờ khai tạm nhập loại hình G12 theo công văn số  2765/TCHQ-GSQL  ngày 01/4/2015: + Chịu thuế nhập khẩu tính trên trị giá MMTB...